Nguyễn Tuân (May 10, 1910 - July 28, 1987) is a renowned Vietnamese author. His early works, such as Thiếu Quê Hương (Without a Homeland), depict a strong character yearning for change and adventure, to learn about the world outside one's comfort zone, and to improve oneself.
Phụ bản: Nguyễn Gia Trí. Bìa: Tô Ngọc Vân. Nhà xuất bản Đời Nay, in tại nhà in Ngày Nay. Giấy phép xuất bản ngày 6-1-1943. In xong ngày 20-4-1943. Tùy bút II Lượm Lúa Vàng, 1943. Quê hương (tiểu thuyết), tức Thiếu quê hương Đăng báo từ 1940. Anh Hoa, Hà Nội, 1943; Hội Nhà Văn
Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do. Song, quy luật ở trên con
Tác đưa Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân (1910 - 1987), xuất hiện trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đang tàn. Quê nghỉ ngơi làng Mọc, nay ở trong phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vang bóng 1 thời (1940), Thiếu quê hương (1940), loại lư đồng đôi mắt cua (1941), Đường
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Sở trường của Nguyễn Tuân là thể loại tùy bút. "Chiếc lư đồng mắt cua" (1940); "Thiếu quê hương" (1943); "Tóc chị Hoài" (1943), "Nguyễn"
. ArticlePDF Available AbstractAndré Gide là một trong số những tác giả nổi tiếng của văn học Pháp nói riêng, của văn học thế giới thế kỷ XX nói chung. “Bọn làm bạc giả”, tiểu thuyết duy nhất của ông, được xếp vào một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của thế kỷ XX. Trong tiểu thuyết này, André Gide đã giới thiệu một phương thức tự sự mới. Qua đó, cuộc sống hiện thực được tái hiện với tất cả sự phức tạp, đa diện, hỗn độn… của nó. Với những cống hiến giá trị này, Gide đã tạo một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của văn học thời kỳ hiện đại. Tiếp nhận, học hỏi văn học Pháp, rộng hơn là văn học phương Tây, Nguyễn Tuân đã tìm được nhiều điểm chung với André Gide. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 7, Số 4, 2017 461–477 461 PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRONG “BỌN LÀM BẠC GIẢ” CỦA ANDRÉ GIDE VÀ “THIẾU QUÊ HƯƠNG” CỦA NGUYỄN TUÂN TỪ GÓC NHÌN CẤU TRÚC LUẬN Trần Thị Bảo GiangaaKhoa Ngữ văn và Văn hóa học, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam Lịch sử bài báo Nhận ngày 12 tháng 07 năm 2017 Chỉnh sửa ngày 28 tháng 09 năm 2017 Chấp nhận đăng ngày 02 tháng 10 năm 2017 Tóm tắt André Gide là một trong số những tác giả nổi tiếng của văn học Pháp nói riêng, của văn học thế giới thế kỷ XX nói chung. “Bọn làm bạc giả”, tiểu thuyết duy nhất của ông, được xếp vào một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của thế kỷ XX. Trong tiểu thuyết này, André Gide đã giới thiệu một phương thức tự sự mới. Qua đó, cuộc sống hiện thực được tái hiện với tất cả sự phức tạp, đa diện, hỗn độn… của nó. Với những cống hiến giá trị này, Gide đã tạo một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của văn học thời kỳ hiện đại. Tiếp nhận, học hỏi văn học Pháp, rộng hơn là văn học phương Tây, Nguyễn Tuân đã tìm được nhiều điểm chung với André Gide. Từ khóa André Gide; Ảnh hưởng của văn học Pháp; Cấu trúc luận; Nguyễn Tuân; Phương thức tự sự. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Khi nhận thức của con người ngày một rộng mở, song hành với nó, văn chương nhân loại cũng hướng đến những khía cạnh phức tạp hơn, tinh tế hơn của cuộc sống. Các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ cũng dần đa chiều, đa nghĩa hơn. Mảng đề tài chứa đựng nhiều vỉa tầng cho sự khai thác nhất không còn tập trung vào quyền thế trong đời sống chính trị hay liên quan đến những giáo điều trong đời sống tinh thần ở phương diện xã hội mà được bắt rễ một cách sâu xa từ vô thức của cá nhân với tất cả những phức cảm đa dạng, thầm kín của nó cùng những ham muốn ẩn ức luôn khao khát sự khai mở để trở thành hữu thức. Từ đó, người nghệ sỹ ngôn từ luôn bị thôi thúc dấn thân vào quá trình khám phá vũ trụ hiện tượng luận hiện sinh của con người với bao lo âu, đam mê, thỏa mãn, tính dục, ghen tuông, tị hiềm, bệnh hoạn,… Cũng từ đó, người nghệ sỹ ngôn từ còn Tác giả liên hệ Email giangttb 462 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] đồng thời khao khát tìm đến và tinh tạo những thủ pháp nghệ thuật cùng bao phương thức tư duy mới để xây dựng được những sản phẩm mang giá trị thẩm mỹ đích thực. Với Bọn làm bạc giả Les Faux-monnayeurs, André Gide André Paul Guillaume Gide, 1869 - 1951, tác giả văn học Pháp thế kỷ XX, giải thưởng Nobel về văn học năm 1947 đã chuyển tải khá trọn vẹn những cách tân trong phương thức tự sự the method of narrative- dưới góc độ bài viết này, chúng tôi quan niệm phương thức tự sự như một thủ pháp nghệ thuật và sự khảo sát sẽ được dựa trên lý thuyết tự sự học kinh điển Tự sự học kết hợp với thi pháp, cấu trúc và ký hiệu, đặc biệt dưới góc nhìn cấu trúc luận structuralism, để trước tiên, như một quy luật tất yếu, chuyển tải không khí mới của thời đại và sau nữa là đáp ứng nhu cầu thưởng thức ngày càng khắt khe của độc giả. Những cách tân ấy dấy lên một làn sóng ảnh hưởng nhất định và sức lan tỏa của nó đã sớm đến với Nguyễn Tuân 1910 - 1987 của Việt Nam. Dẫu còn nhiều ý kiến trái chiều về dấu hiệu cụ thể của những ảnh hưởng từ văn học Pháp nói chung, từ André Gide nói riêng đến những sáng tác của Nguyễn Tuân nhưng trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi nhận thấy với Bọn làm bạc giả và Thiếu quê hương, André Gide và Nguyễn Tuân đã có rất nhiều sự “gặp gỡ” từ việc xây dựng những “tuyến chính”, “tuyến phụ” trong tác phẩm đến những kết cấu mới lạ; Từ cách chọn điểm nhìn trần thuật, quan điểm trần thuật độc đáo đến lối viết tự thuật đặc trưng;… và chúng tôi xem đó như những “tín hiệu” mang tính gợi mở những hướng nghiên cứu mới. 2. NHỮNG CÁCH TÂN PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRUYỀN THỐNG Trước hết, có thể thấy việc xếp Bọn làm bạc giả của André Gide vào danh sách những tiểu thuyết “khó đọc” của văn học thế giới đầu thế kỷ XX là điều không thể phủ nhận. Vậy phải chăng nhận xét “khó đọc” mà độc giả dành cho tác phẩm xuất phát từ sự khác lạ trong kết cấu, trong bố cục, trong những tình huống, tình tiết truyện ở một khía cạnh nhất định, có thể đồng quy với phạm trù cái biểu đạt signifiant so với những tác phẩm khác? “Tiểu thuyết trong các tiểu thuyết”, “tiểu thuyết của nhiều tiểu thuyết”, “phản tiểu thuyết”, “nghịch tiểu thuyết” là những đúc kết của các nhà nghiên cứu phê bình văn học về Bọn làm bạc giả, đồng thời đó cũng là quá trình hiện thực hóa bao khao khát của André Trần Thị Bảo Giang 463 Gide được chuyển tải trong tác phẩm của mình những nhân vật cùng bao mối quan hệ đan xen, chồng chéo; Dồn nén, chồng chất tình huống để tạo nên bố cục nhiều tầng, nhiều tuyến. Có thể khẳng định, André Gide đã xây dựng thành công hàng loạt những “câu chuyện đúp”, những “số phận đúp” trong Bọn làm bạc giả. Chúng tôi tạm sơ đồ hóa tác phẩm theo những “tuyến chính” như trong Hình 1. Hình 1. Cấu trúc tuyến chính trong Bọn làm bạc giả Bên cạnh việc cấu trúc “tuyến chính”, Bọn làm bạc giả còn hàng loạt những “tuyến phụ” khác nữa, kiểu như Bernard dần dần yêu Laura sau khi cùng Édouard giúp đỡ cô; De Passavant tán tỉnh Sarah em gái Laura để trêu tức Olivier; Boris chính là con ngoài giá thú của người con trai đã mất của ông giáo dạy nhạc già La Pérouse. Khi nhóm học sinh trung học thành lập Hội học sinh 464 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] can đảm, Boris muốn chứng tỏ dũng khí bằng cách tự bắn vào đầu, không may, khẩu súng hôm ấy chính là súng của La Pérouse lại được nạp đạn… Không chỉ có vậy, ngay trong tác phẩm, André Gide còn để nhân vật Édouard hóa thân như một bản ngã thứ hai của ông để thành kẻ chuẩn bị chấp bút viết một tiểu thuyết trùng tên Bọn làm bạc giả. Hay nói một cách khác, có đến hai Bọn làm bạc giả dưới góc độ là sáng tác văn chương và nhiều kiểu “bọn làm bạc giả” trong tác phẩm này. Hình 2. Cấu trúc tầng trong Bọn làm bạc giả Từ đó, có thể thấy với cấu trúc nhiều tầng, nhiều tuyến của tác phẩm, André Gide đã vận dụng linh hoạt yếu tố đại tự sự grand narrative trong sáng tác của ông. Ở Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân, nếu dựa vào yếu tố cấu trúc “tầng”, “tuyến” tương tự André Gide, ta có thể có sơ đồ như trong Hình 3. Nếu xem cốt truyện của Thiếu quê hương với những chuyến đi của Bạch, nhân vật trung tâm, là cái bất biến invariant thì những câu chuyện liên quan đến thầy Bạch, Dung, Hồ, Sương, Hòa…có thể xem như những biến dạng variant hay ở một phương diện tương tự, nếu xếp câu chuyện “đi” của Bạch vào một dạng cấu trúc trục thẳng đứng trục lựa chọn, paradigme thì trục ngang trục kết hợp, syntagme sẽ là những gì gắn với các nhân vật còn lại. Từ đó, cũng tương tự như trong Bọn làm bạc giả của André Gide, người đọc hoàn toàn có thể hình dung được những cấu trúc “tuyến chính” và “tuyến phụ” ở Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân như trong Hình 4. Trần Thị Bảo Giang 465 Hình 3. Cấu trúc tầng trong Thiếu quê hương Hình 4. Cấu trúc tuyến trong Thiếu quê hương 466 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] Ngoài ra, cũng dưới góc nhìn cấu trúc luận, phương thức tự sự của một tác phẩm văn xuôi còn thể hiện ở mặt kết cấu. Loại kết cấu xuất hiện phổ biến trong sáng tác của André Gide mà độc giả có thể dễ dàng nhận thấy, đó là kết cấu tổ hợp và kết cấu lồng ghép - yếu tố tạo thành tính chất “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”, “tiểu thuyết của tiểu thuyết”, “truyện trong truyện”… trong các sáng tác của ông. Hình 2 mà chúng tôi đã phác họa ở trên có thể xem là một minh chứng điển hình cho kiểu kết cấu tổ hợp và kết cấu lồng ghép trong tác phẩm của André Gide. Bọn làm bạc giả không chỉ đơn thuần là tên của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng, đồng thời cũng là duy nhất của André Gide, Bọn làm bạc giả còn đồng thời được dùng để đặt tên cho một tác phẩm chứa đựng đầy trăn trở của nhân vật nhà văn ngay trong chính câu chuyện Édouard, không những thế, “bọn làm bạc giả” còn ám chỉ trò chơi làm tiền giả đầy mạo hiểm và cũng không kém phần quái gở của lũ học sinh trong truyện và rồi “bọn làm bạc giả” còn được sử dụng để chỉ những kẻ lấy quyền thế, chức tước hay sự giàu có, xa hoa để che phủ, để lừa phỉnh, để băng hoại kẻ khác…Bên cạnh đó, “kết cấu gương soi” cũng là một điểm nhấn tạo thành sự mới lạ, độc đáo trong phương thức tự sự của André Gide ở Bọn làm bạc giả Hình 5. Nhân vật Boris đóng vai trò như một “tấm gương phản chiếu” để khi thấu thị, Bernard hiểu được cái giá của sự sống, của cuộc sống gia đình hay nói cách khác, chính cái chết dường như hoài phí, như vô nghĩa mà nguyên nhân sâu xa xuất phát từ sự lạnh nhạt trong mối quan hệ gia đình đã góp phần thức tỉnh Bernard, khiến anh quay về với mái ấm, nơi trước kia anh đã nhẫn tâm từ bỏ. Hình 5. Kết cấu gương soi trong Bọn làm bạc giả Trần Thị Bảo Giang 467 Những kết cấu này chúng ta cũng có thể hoàn toàn bắt gặp trong Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân dựa vào sơ đồ đồng dạng như Hình 6. Hình 6. Kết cấu gương soi trong Thiếu quê hương Nhân vật đảm nhận “tấm gương phản chiếu” chính là Dung, để khi nhìn vào, Bạch chạm đến sự ăn năn vì nhiều lúc Bạch đã tìm mọi cách ruồng rẫy Dung để thỏa mãn thú ngao du của mình. Cuối cùng sự nhẫn nhịn, hy sinh và đức hạnh của người vợ hiền đã kéo Bạch về với mái ấm, trở lại với cuộc sống trên chính quê hương. Không chỉ có vậy, sự mới lạ trong phương thức tự sự của André Gide ở Bọn làm bạc giả còn thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật và quan điểm trần thuật của ông. Đi vào nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật và quan điểm trần thuật trong Bọn làm bạc giả, chúng tôi có thể khẳng định sự cách tân phương thức tự sự nói riêng, cách tân nghệ thuật tiểu thuyết nói chung đã khiến André Gide cùng sáng tác của ông không còn ở vị trí “bên thềm” thời kỳ hiện đại mà chính thức nhập vào dòng chảy của quá trình đổi mới và hiện đại hóa văn xuôi tự sự phương Tây thế kỷ XX, XXI. Bởi lẽ, André Gide, trong tác phẩm của mình, đã tiếp cận, tiệm cận rồi sử dụng nhuần nhuyễn cách thức đa dạng hóa điểm nhìn nghệ thuật, pha trộn, lồng ghép, đan cài nhiều điểm nhìn nghệ thuật đây cũng là một trong số những thủ pháp quen thuộc của văn học hiện đại và xét ở một góc độ nhất định, của cả văn học hậu hiện đại. Có những đoạn trong Bọn làm bạc giả, tác giả đóng vai trò người kể chuyện biết có giới hạn ví dụ ở phần đầu của tiểu thuyết khi ông viết về Bernard nhưng lại có đoạn tác giả hóa thân thành một nhân vật chẳng hạn như những phần liên quan đến Édouard, Olivier… và cũng có lúc độc giả hình dung tác giả chỉ là một người 468 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] quan sát khi đề cập đến Vincent, Boris…. Không chỉ có vậy, câu chuyện trong tác phẩm còn đến với độc giả bởi nhiều hình thức tạo dựng khác nhau và ứng với mỗi hình thức ấy lại là một điểm nhìn, kiểu nhìn khác như Thông qua sự trần thuật của nhân vật, qua đối thoại giữa các nhân vật, qua những trang nhật ký của nhân vật, qua những lá thư trao đổi của các cặp nhân vật… Ngoài ra, chúng tôi thiết nghĩ, khi đề cập đến điểm nhìn nghệ thuật không thể bỏ qua việc tìm hiểu quá trình tổ chức trần thuật focus of narrative. Trong các tác phẩm thuộc thể loại tự sự, thông thường việc tổ chức trần thuậtđược phân loại thành hai phương pháp chính yếu Phương pháp toàn cảnh panoramic, ở đó các tác giả trực tiếp đưa vào tác phẩm những nhận xét, đánh giá của họ về các biến cố, sự kiện được miêu tả Dickens, Thackeray, Lev Tolstoi thường áp dụng phương pháp này; và Phương pháp kịch cảnh scenic là phương pháp mà các tác giả “hòa tan” vào điểm nhìn của nhân vật, hệ quả của phương pháp này là sự nhòe ranh giới giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật chúng ta có thể bắt gặp phương pháp này ở các tác phẩm của Flaubert, Henry James…. Tìm hiểu thế giới nghệ thuật của André Gide, chúng tôi nhận thấy đa phần các sáng tác của ông đều được dựa theo phương pháp thứ hai Phương pháp kịch cảnh trong quá trình tổ chức trần thuật. Do vậy, trong tác phẩm, cái nhìn của tác giả và cái nhìn của nhân vật thường hay đồng nhất. Từ đó, chúng tôi tạm định danh điểm nhìn nghệ thuật đa dạng, linh hoạt, với tiêu điểm, tiêu cự biến ảo, phân cách không ngừng trong Bọn làm bạc giả của André Gide là dạng “điểm nhìn vạn hoa”. Cũng chính vì sự phức tạp từ điểm nhìn nên ở tác phẩm liên tục có sự chồng chéo giữa “tường trình” và “tường thuật” chi phối phương thức tự sự hay nói cách khác, André Gide đã đóng góp thêm hướng đổi mới kỹ thuật tự sự thành “phương thức tự sự nhiều tầng”. Bên cạnh đó, ở bình diện quan điểm nghệ thuật, André Gide đã phần nào nghiêng về kiểu chọn quan điểm không tham dự, để rồi những sự kiện, những tình tiết và cả những nhân vật trong những câu chuyện của ông cứ thế lặng lẽ hiển hiện, lặng lẽ được trình diễn như từng hồi, từng lớp, từng cảnh của một vở kịch trên sân khấu cuộc đời và sự phán xét cuối cùng dành cho độc giả, để rồi tác phẩm của ông đến với sự tiếp nhận của độc giả theo mô hình của văn học hiện đại Hình 7. Trần Thị Bảo Giang 469 Hình 7. Mô hình tiếp nhận của văn học hiện đại Một điểm nhấn khác nữa trong những cách tân phương thức tự sự truyền thống của André Gide, đó là sự đảo lộn, dung hợp các phạm trù thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong Bọn làm bạc giả, hướng đến sự hỗn độn chaos và đôi khi là sự phức tạp complexity khi xây dựng cả hai phạm trù này. Vẫn hướng về những yếu tố thực tại khách quan nhưng André Gide đã tạo nên những giá trị nghệ thuật không đơn thuần xuất phát từ tinh thần nhận thức, phân tích, tái hiện hiện thực cuộc sống kiểu chủ nghĩa hiện thực mà những gì được tạo dựng trong sáng tác của ông còn thể hiện bao mâu thuẫn cực đoan trong tinh thần khi chống lại các nền tảng tư tưởng đã lỗi thời. Tác phẩm của ông còn liên quan đến tính chọn lọc cao về thẩm mỹ, về tính liên tưởng, tính ẩn dụ và đặc biệt là chúng góp phần khuấy động để nêu bật lên các vấn đề của con người, của cuộc đời. Ở Nguyễn Tuân, với Thiếu quê hương, chúng tôi nhận thấy tất cả những yếu tố trên đều ít nhiều xuất hiện. Thiếu quê hương cũng chất chứa lối viết văn tự thuật L’autographe như Bọn làm bạc giả. Ở Thiếu quê hương, độc giả cũng có thể thấy những điểm nhìn trần thuật đan xen, biến ảo của tác giả với quan điểm trần thuật không tham dự và kéo theo đó là bao sự dịch chuyển của thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong tác phẩm những yếu tố này, do những hạn chế nhất định của người viết nên chúng tôi mới chỉ tạm dừng ở định mức “nêu” chứ chưa thể toàn vẹn định mức “kiến giải” và tham vọng của chúng tôi là sẽ trở lại tìm hiểu vấn đề này kỹ càng hơn trong một nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Tuân. Như vậy, phải chăng, điều mà André Gide và cả Nguyễn Tuân cùng hướng đến chính là sự khát khao tác phẩm của họ thể hiện một thứ trật tự không có tính chu kỳ, thậm 470 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] chí là những thực thể tự phát tổ chức spontaneous self- organization để đạt đến cái đích cuối cùng xóa bỏ ranh giới giữa cuộc sống đời thường và cuộc sống nghệ thuật? 3. NHỮNG TIỀM NĂNG TẠO NGHĨA CỦA TÁC PHẨM Con đường lớn nhất của cuộc đời cũng như của văn chương là nhận thức. Thông qua những tác phẩm văn chương, hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, người đọc có thể tiếp cận được với cái nhìn thực tại hay tìm được những cách thức lý giải cuộc sống. Nếu như thế kỷ XVII, XVIII, XIX, ở phương Tây nói chung, ở Pháp nói riêng ghi nhận sự xuất hiện rồi dần dần mở rộng và tồn tại với uy thế phổ quát của chủ nghĩa duy lý cùng sự đề cao cái tôi tư duy le cogito của con người thì sang thế kỷ XX, khi khát khao tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn ngày càng bức thiết, khi nhu cầu tìm hiểu những khía cạnh tinh tế của đời sống ngày càng thôi thúc thì những tư tưởng duy lý cũ xưa không còn đủ khả năng đáp ứng nhận thức của con người trong việc khám phá những điều bí ẩn của thế giới. Do vậy, văn học phương Tây nói chung thời kỳ này còn gọi là văn học thời kỳ hiện đại đã có xu hướng khước từ việc trình bày, mô tả lại đời sống con người mà các nhà văn thường tập trung vào phát hiện những nghịch lý trong cuộc đời bởi nghệ thuật không chỉ đơn thuần là sự tái tạo ý nghĩa của sự vật, của đời sống mà nghệ thuật còn có thể bao quát sinh khí của đời sống với những yếu tố bất khả tri. Hơn nữa, khi người nghệ sỹ ngôn từ nhận ra rằng thế giới này phức tạp hơn những định kiến và những mô hình thống nhất sẵn có thì tác phẩm văn chương cũng đồng thời hướng đến việc “khước từ ý niệm về một sự kiện duy nhất có thể khu biệt, cô lập hóa” Richard, Chris, Ziauddin, & Patrick, 2006, tr. 17. André Gide và tác phẩm của ông không nằm ngoài quy luật ấy. Trong Bọn làm bạc giả, độc giả có thể dễ dàng nhận thấy tác giả đã thoát khỏi sự mệt mỏi trong vai trò của người kể chuyện điều này thường gặp trong văn chương một thời mà luôn chiếm thế chủ động trong vai trò của người tạo ra chuyện, tạo ra những hướng tiếp nhận khác nhau cho độc giả. Từ đó, tác phẩm của André Gide đầy ắp những yếu tố mang nhiệm vụ chuyên chở ý nghĩa chứ không hẳn chỉ đơn thuần là củng cố ý nghĩa, điều này, suy cho cùng, cũng đồng nghĩa với sự mở rộng phạm vi đến mức gần như không giới hạn của cái được biểu đạt signifié. Trần Thị Bảo Giang 471 Bi kịch của những đứa con ngoài giá thú; Sự đổ vỡ niềm tin trong các gia đình quyền quý, thế lực; Những mối tình dang dở vì phụ bạc, lừa lọc, lợi dụng, thủ đoạn; Thói ăn chơi sa đọa; Kiểu quý tộc rởm đời; Tình yêu đồng giới cùng bao sự ghen tuông, tị hiềm; Quan niệm về những giá trị văn chương đích thực; Những liệu pháp chữa bệnh tâm thần; Trò lưu hành tiền giả và mối nguy hại khôn lường của những đồng bạc giả về linh hồn, về tinh thần,… và còn rất nhiều điều khác nữa là những tầng ý nghĩa mà độc giả, vượt qua những “khoảng cách thẩm mỹ” aesthetische distanz, có thể tham chiếu từ Bọn làm bạc giả của André Gide. Hay nói cách khác, với những tiềm năng tạo nghĩa cùng khả năng bao quát thực tại vô cùng rộng lớn, Bọn làm bạc giả của André Gide đã “trở thành nơi giao lưu hò hẹn của các vấn đề đáp ứng yêu cầu của trí tuệ” Phùng, 2010, tr. 6. Đồng thời, trong tác phẩm, cái tôi hướng ngoại ngày càng bị thu hẹp lại để nhường chỗ cho cái tôi hướng nội xuất hiện với mật độ dần dày đặc hơn, cái tôi theo kiểu “không khao khát cuộc sống vĩnh hằng trên thiên đường, cũng không khao khát cuộc sống hạnh phúc nơi trần thế mà chỉ khao khát sự bình yên trong thẳm sâu tâm hồn nơi bản năng vô thức đang đòi hiện diện” Lê, 2006, tr. 89. Khi tác giả chú trọng vào trước hết là khám phá, sau nữa là khai phá đời sống nội tâm con người với tất cả những vỉa tầng của suy tư day dứt, của cô đơn gào thét, của nỗ lực vẫy vùng, của trạng thái nhiễu tâm, để thoát khỏi ngộ nhận, ảo tưởng. Cũng ở Bọn làm bạc giả, André Gide đã chuyển tải bao thông điệp cuộc sống thông qua phạm trù đam mê. Tuy nhiên, những đam mê trong tác phẩm của ông không phải là đam mê thiêng liêng passions sarées kiểu như chàng Roland trong Trường ca Roland Ở đó đam mê được thể hiện như là một niềm tin được cổ vũ nồng nhiệt, là lòng ham mê chiến đấu lập chiến công lớn của những người anh hùng là hiệp sĩ, là sự tôn thờ danh dự và tình yêu, là lòng trung quân ái quốc tuyệt đối Đinh, 2004, tr. 86. Đó cũng không phải là đam mê trần tục passions profane thường xuất hiện trong các dòng văn học cung đình và văn học trào phúng, được thể hiện dưới dạng những say đắm, khát vọng trong tình yêu, trong đời sống cá nhân của con người. Đam mê trong tác phẩm của André Gide là những đam mê mang tính hủy diệt, tiêu vong sự sống, tàn phá nhân tính con người. 472 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] Vincent sẵn sàng ruồng bỏ người yêu Laura khi cô đang bụng mang dạ chửa chỉ vì một cái cớ duy nhất Không đủ tiền chu cấp cho hai mẹ con mà tiền này chính anh đã nướng sạch trong sòng bạc rồi chạy theo nhân tình mới; và Lilian để cuối cùng giết chết cô khi họ cùng đang ở châu Phi. Đó là những gì gần giống như bản năng sinh vật của nhân vật, thoát ly hoàn toàn với sự sàng lọc của lý trí. Nhấn mạnh thứ bản năng sinh vật này, ngòi bút André Gide phần nào đó xao động khi quanh ông đầy rẫy những con người đang lún sâu vào những đam mê hủy diệt, tự mình tước đoạt vẻ đẹp nhân tính và mọi mối quan hệ giữa người với người đôi khi chỉ còn là sự vị kỷ hay tàn nhẫn. Có lẽ cũng vì vậy mà tác giả André Gide còn được mệnh danh là “kẻ gây bất an”! Khi không khí bi quan phảng phất trong tác phẩm, phải chăng đó chính là lúc ở André Gide phần nào đã vắng bóng niềm tin vào cuộc sống, vào lẽ sống ở đời? Sự thực không hẳn như vậy. Tập trung mô tả những con người mà ở đó, bản năng sinh vật lấn lướt, kéo ghì họ xuống dưới ngưỡng người, một lần nữa, chủ nghĩa nhân đạo lại sáng ngời trong các tác phẩm của André Gide bởi đằng sau sự mô tả ấy là khát vọng, là mong muốn con người được sống đúng với nghĩa “người”. Từ đó, độc giả còn có thể thấy ý thức phân biệt ranh giới giữa sự hình thành tính cách và vấn đề bản năng nguyên thủy basic instinct của con người đã xuất hiện rộng rãi trong hệ tư tưởng nhân loại. Làm cách nào để hạn chế phần con, tăng phần người trong mỗi con người luôn là câu hỏi được đặt ra cho mọi dân tộc ở mọi thời đại khác nhau. Bằng cách khai thác những khía cạnh liên quan đến bản năng của con người, những tác phẩm của André Gide đã tiếp cận được một cách toàn vẹn nhất với “chất người” của con người trước những xô đẩy của hoàn cảnh dựa vào những điều kiện sống mà ở đó nhân cách con người luôn bấp bênh ở trạng thái mất- còn, đồng thời từ những hành vi khai thác tâm trạng của nhân vật khi đang chới với trong ranh giới người - vật dường như là một hằng số được lặp lại nhiều lần trong các sáng tác của André Gide. Đó phải chăng cũng chính là con đường mà tác giả chọn lựa để đến với cuộc đời, đến với những lẽ sinh tồn, đến với những chân lý kép của con người? Với Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân, độc giả cũng có thể thấy ở đó không chỉ đơn thuần là những chuyến đi của nhân vật mà còn là biết bao mảnh ghép đầy sắc màu của câu chuyện cuộc sống Từ thói ích kỷ, gia trưởng của người chồng đến sự cam chịu, hy sinh của người vợ trong gia đình; Từ mối quan hệ cha con đến anh em ruột thịt; Từ Trần Thị Bảo Giang 473 những trải nghiệm trong cùng một chuyến đi đến tình bạn gắn bó như tri kỷ; Từ xa cách đến gần gũi; Từ mơ hồ đến thức tỉnh; Từ hăm hở, hứng khởi đến rệu rã, buông xuôi…Và, đâu đó, ở Nguyễn Tuân, chúng ta còn như bắt gặp cả “sự bất an” dẫu chỉ như thoáng qua theo kiểu của André Gide khi để cho Bạch trong Thiếu quê hương có thú vui muốn được đi đây đó nhưng có lúc độc giả lại bắt gặp anh dằn vặt “Đi để mà đau khổ cả lúc đi lẫn lúc nghỉ”. Có lẽ, tâm trạng mâu thuẫn, bế tắc này của Bạch cũng chính là những mâu thuẫn, bế tắc trong tư tưởng của tác giả Nguyễn Tuân - một kẻ “si tình” với quê hương nhưng lại luôn cảm thấy “thiếu quê hương” bởi quê hương ấy đang đong đầy mất mát khi bị bủa vây bởi đội quân xâm lược cùng bè lũ tay sai. Thử ứng dụng một trong số “năm chìa khóa để hiểu Gide” của Michel 2002 đó là tính chất lưỡng phân của sự duy ngã và sự tưởng tượng, chúng tôi thiết nghĩ có thể khai mở phần nào những tầng ý nghĩa của Thiếu quê hương theo kiểu Nhân vật Bạch, xét ở một góc độ nhất định, chính là một dạng bản ngã thứ hai của tác giả; Nhân vật Bạch đã giúp tác giả cảnh báo tình trạng khủng hoảng, bất an trong đời sống tinh thần, một trong số những căn bệnh phổ biến và trầm kha của con người thời kỳ hiện đại Trạng thái tinh thần kiểu “anorexie” nghĩa là không còn hứng thú, say mê với bất cứ một điều gì, cả mặt thể xác lẫn tinh thần, việc tồn tại chỉ do một thói quen; Nhân vật Bạch thể hiện cuộc tranh đấu mãnh liệt giữa lý trí và dục vọng, giữa nhân cách và bản năng, giữa bản lĩnh và đam mê cuồng vọng, đó cũng là cuộc tranh đấu muôn đời của con người trong suốt hành trình một cuộc đời. Rõ ràng, có thể chắc chắn một điều, với André Gide và Nguyễn Tuân, phạm vi hình thức biểu hiện của tác phẩm đã bị phá vỡ. Sáng tác của họ luôn khơi gợi lòng đam mê, hứng thú ở độc giả bởi mỗi lần tiếp nhận chúng, người đọc lại khám phá thêm nhiều điều mới mẻ, nhiều sự lý thú và những tầng vỉa quặng trong nguồn tài nguyên của sức sáng tạo ấy dường như là vô tận. Và đọng lại, điều mà André Gide đã đạt được trong sáng tác của ông chúng tôi khẳng định ở Nguyễn Tuân cũng vậy đó là tác phẩm mở ra những 474 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] góc độ, những khía cạnh muôn màu của cuộc sống. Những nỗi đau trong tác phẩm không chỉ là nỗi đau của tác giả, sau đó là của độc giả mà còn là những nỗi đau nhân thế. Thế giới mà tác giả tạo ra trong tác phẩm là một dạng thế giới đặc biệt. Một thế giới mà ở đó, người đọc không cần phải định hình những địa danh tương ứng hay truy tìm căn nguyên những sự kiện hoặc nguồn gốc những con người ở đó. Một thế giới theo kiểu “neverland” được xây dựng cốt nhằm thể hiện những chân lý đời thường - những chân lý được rút ra từ đốm lửa nhỏ nhoi, leo lét của lương tri con người. Thế giới ấy cũng là nơi thể hiện một niềm tin đủ đầy hơn muôn vạn niềm tin khác Tin vào sự trường tồn của nhân cách con người. 4. THAY LỜI KẾT Có thể thấy, André Gide không mấy xa lạ với văn học Việt Nam, với công chúng yêu văn học Việt Nam, đặc biệt ngay từ thập niên 30 của thế kỷ XX. Tác giả Phan 1993 đã nhận xét Về văn xuôi thì không ai ảnh hưởng nhiều tới các nhà văn Việt Nam bằng André Gide. Đây là danh sách những nhà văn thụ giáo Gide Nhất Linh trong Đời mưa gió, Đôi bạn, Bướm trắng, Đoạn tuyệt; Khái Hưng trong Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời, Thiếu quê hương; Hoàng Đạo trong Con đường sáng; Huy Cận trong Kinh cầu tự; Xuân Diệu trong Phấn thông vàng…và vô số nhà văn khác. Phan, 1993, tr. 26. Riêng với Nguyễn Tuân, có lẽ không chỉ đơn thuần là sự chịu ảnh hưởng và tiếp nhận André Gide trên bình diện tư tưởng sự giải phóng tư tưởng, giải phóng cá nhân khỏi những ràng buộc của thể chế xã hội bức bối; Mở rộng “phạm vi sống” cho cái tôi đích thực… mà phần nào đậm nét hơn vẫn là những thủ pháp đặc sắc của nghệ thuật tự sự. Trong bài viết “Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide” in trên Tạp chí Văn học, số 4/1998, tác giả Hoàng 1998, tr. 25-29 đã nhận định Trần Thị Bảo Giang 475 Điểm tương đồng đầu tiên là Gide và Nguyễn Tuân rất coi trọng hình thức văn chương, dành tâm lực cho “công việc trau chuốt hình thức” travail de la forme để đạt đến sự trong sáng và súc tích. Nguyễn Tuân đã nói Trong năm giác quan được đem ra là công cụ kiểm nghiệm, cặp mắt soi xuống dòng, trang giữ vai trò cầm trịch trong việc nhận dạng và đánh giá từng bước đi của bộ điệu cho đoạn văn… Có khi lại như chính lòng bàn tay của mình phải sờ lại những góc cạnh câu viết của mình, xem lại có nên cứ gồ ghề chân chất như thế, hay là nên gọt nó tròn trĩnh đi thì nó dễ vào lỗ tai người tiêu thụ hơn… Nguyễn Tuân và André Gide còn có điều vừa giống nhau vừa khác nhau là họ không ngừng đi tìm một lối thoát đúng đắn và tốt đẹp cho đời sống. Hoàng, 1998, tr. 25-29. Như vậy, đặt vấn đề tìm hiểu phương thức tự sự trong Bọn làm bạc giả của André Gide và Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân dưới góc nhìn cấu trúc luận, chúng tôi muốn tái khẳng định Những ảnh hưởng của André Gide đến văn học Việt Nam nói chung, đến Nguyễn Tuân nói riêng là khá rõ nét. Có điều đó có lẽ bởi các tác giả đều gặp nhau ở một điểm Dùng ngòi bút để nói lên tiếng nói trước hết là bênh vực, sau nữa là ca ngợi con người cùng những giá trị đích thực của con người trong cuộc đời. Và mỗi lần tiếp cận với André Gide, với Nguyễn Tuân cùng những sáng tác của họ, những lời bút đàm của cố nhạc sỹ Văn Cao - một “kẻ ngoại đạo” trong lĩnh vực văn học như lại vang vọng Chúng ta đọc một tác giả như đi theo một dòng sông. Dù bắt đầu từ khúc nào, dù ghé vào bến nào, chúng ta đều phải nghĩ là ngược lên nguồn thì đường dài lắm, mà xuôi ra biển thì biển còn xa. Hai điểm đầu và cuối đó đều thấy vô cùng… Cuộc đời và nghệ thuật của nhà thơ nhà văn phải là những dòng sông lớn càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng… Văn, 1994, tr. 153. TÀI LIỆU THAM KHẢO André, G. 2008. Bọn làm bạc giả. Phan. V. T., Dịch giả. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Barthes, R. 1997. Độ không của lối viết. Ngọc, N., Dịch giả. Hà Nội, Việt Nam NXB. Hội Nhà văn. Đặng, Đ. A. 1995. Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo dục. 476 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] Đinh, R. T. 2004. Một số quan niệm về đam mê trong văn học Pháp từ thời trung cổ đến Balzac. Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 11, 82-91. Hoàng, N. 1998. Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide. Tạp chí Văn học, 4, 25-29. Newton, K. M. 1997. Twentieth century literary theory 2nd ed.. New York, USA St. Martin's Press. Lê, B. H. 2006. Nghệ thuật Franz Kafka. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo dục. Lộc, T. P. 2002. André Gide Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã hội. Lữ, N. H. 1996. Tuyển tập Nguyễn Tuân Tập 1. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Michel, T. 2002. Năm chìa khóa để hiểu Gide. Trong Lộc, T. P. Chủ biên, André Gide, Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã hội. Phan, N. 1993. Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945. Tạp chí Văn học, 4, 24-29. Phùng, T. V. 2010. Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật. Hà Nội, Việt Nam NXB. Tri thức. Richard, A., Chris, G., Ziauddin, S., & Patrick, C. 2006. Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại. Đăng, T. T., Dịch giả. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam NXB. Trẻ. Tôn, M. T. 2002. Nguyễn Tuân, tác phẩm và dư luận. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Trần, S. Đ. 2008. Tự sự học 2nd ed.. Hà Nội, Việt Nam NXB. Đại học Sư phạm. Văn, C. 1994. Mấy ý nghĩ về thơ. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Trần Thị Bảo Giang 477 NARRATIVE METHOD IN “LES FAUX-MONNAYEURS” OF ANDRÉ GIDE AND “THIẾU QUÊ HƯƠNG” OF NGUYEN TUAN FROM THE POINT OF VIEW OF STRUCTURALISM Tran Thi Bao Gianga* aThe Faculty of Literature and Cultural Studies, Dalat University, Lamdong, Vietnam *Corresponding author Email giangttb Article history Received July 12th, 2017 Received in revised form September 28th, 2017 Accepted October 02nd, 2017 Abstract André Gide is one of the famous authors of French literature in particular, of the world literature in the twentieth century in general. “Les Faux-mononayeurs”, his only novel, is classified as one of the best novels of the twentieth century. In this novel, André Gide has introduced a new method of narrative through which the real life is described as its multi-faceted complexity and chaos, etc. Therefore, Gide has put a major step in the development of modern literature era. Receiving and learning French literature along with the Western literature, Nguyen Tuan has shared a number of similarities with André Gide. Keywords André Gide; Influences of French literature; Nguyen Tuan; Structuralism; The method of the narrative. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this số quan niệm về đam mê trong văn học Pháp từ thời trung cổ đến BalzacR T ĐinhĐinh, R. T. 2004. Một số quan niệm về đam mê trong văn học Pháp từ thời trung cổ đến Balzac. Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 11, gì chung giữa Nguyễn Tuân và André GideN HoàngHoàng, N. 1998. Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide. Tạp chí Văn học, 4, thuật Franz Kafka. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo dụcB H LêLê, B. H. 2006. Nghệ thuật Franz Kafka. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo Gide Đời văn và tác phẩmT P LộcLộc, T. P. 2002. André Gide Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã tập Nguyễn Tuân Tập 1N H LữLữ, N. H. 1996. Tuyển tập Nguyễn Tuân Tập 1. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn chìa khóa để hiểu GideT MichelMichel, T. 2002. Năm chìa khóa để hiểu Gide. Trong Lộc, T. P. Chủ biên, André Gide, Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam giai đoạn 1932 -1945N PhanPhan, N. 1993. Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam giai đoạn 1932 -1945. Tạp chí Văn học, 4, thuyết trên đường đổi mới nghệ thuậtT V PhùngPhùng, T. V. 2010. Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật. Hà Nội, Việt Nam NXB. Tri môn chủ nghĩa hậu hiện đạiA RichardG ChrisS ZiauddinC PatrickRichard, A., Chris, G., Ziauddin, S., & Patrick, C. 2006. Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại. Đăng, T. T., Dịch giả. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam NXB. Tuân, tác phẩm và dư luậnM T TônTôn, M. T. 2002. Nguyễn Tuân, tác phẩm và dư luận. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học.
Quê hương - Nguyễn Đình Huân Quê hương là một tiếng ve Lời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơi Quê hương là một góc trời tuổi thơ. Quê Hương ngày ấy như mơ Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diều Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê. Quê hương là phiên chợ quê Chợ quê mong mẹ mua về bánh đa Quê hương là một tiếng gà Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng. Last edited by a moderator 11 Tháng mười một 2020 nguyễn đình huân quê hương thơ Trang Chủ Diễn Đàn Thư Viện Tiện Ích Tiện Ích Up Ảnh Miễn Phí Photoshop Online Soát Lỗi Chính Tả Kiếm Tiền Online List Truyện Hay ❤️ VNO News Thành Viên Menu
Khi viết về sông Đà, Nguyễn Tuân đã bộc lộ rõ mình là một nhà văn với tình yêu quê hương đất nước tha thiết bởi trong văn chương nghệ thuật, viết về sông núi là viết về giang sơn mà viết về giang sơn, là viết về Tổ quốc. Đây là tình yêu nhất quán trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Trước cách mạng, tình yêu quê hương Tổ quốc của Nguyễn Tuân được bộc lộ một cách thầm kín thông qua tác phẩm “Thiếu quê hương”. Đó là nỗi lòng của những con người “sống giữa quê hương nhưng vẫn thấy mình thiếu quê hương.” Còn nói như Chế Lan Viên“Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấyTổ quốc ở quanh mình mà có cũng như không”Giờ đây, khi viết về con sông Đà, ánh sáng cách mạng rọi chiếu vào tâm hồn của nhà văn, phù sa của nhân dân bồi đắp. Ông đứng giữa dòng sông Đà, đứng giữa nhân dân Tây Bắc để bộc lộ trực tiếp tình yêu nước sâu sắc qua từng câu chữ. Không yêu sao được khi ông đến với Đà giang, viết về một con sông hùng vĩ, ông đã đọc hàng trăm trang cổ sử, hàng trăm trang “Dư địa chí”, đọc biết bao nhiêu áng thơ trữ tình của Tản Đà, của Lí Bạch, của Nguyễn Quang Bích,… nhưng viết về Đà giang, Nguyễn không bị lệ cổ, không bị tập cổ, không bị ảnh hưởng bởi người xưa mà đã tái tạo mới trên từng trang viết vì nói như Nam Cao “Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có.”Cần phải khẳng định rằng khi viết tập tùy bút “Sông Đà”, Nguyễn Tuân đã đi thực tế ở trên Tây Bắc. Trong chuyến đi, Nguyễn Tuân đã thâm nhập vào đời sống của nhân dân Tây Bắc và đã trở thành người đầu tiên kể ra chính xác 50 trên tổng số 73 con thác dữ từ ngã 3 biên giới Việt – Trung về tới Chợ Bờ. Tố Hữu đã từng nói “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật ứ đầy”. 15 bài kí trong tập tùy bút “Sông Đà” nói chung và “Người lái đò sông Đà” nói riêng thực sự đã được tràn ra từ trong trái tim Nguyễn Tuân khi cuộc sống của nhà văn trên Tây Bắc đã đủ đầy để chảy tràn thành những áng văn yêu nước ấy còn được bộc lộ khi Nguyễn Tuân nhớ lại một lần nhà văn bám gót anh liên lạc. Nhìn thấy con sông Đà từ rất xa, Nguyễn Tuân gọi con sông ấy là một cố nhân, một người tình chưa hề biết mặt theo ý thơ của Tản Đà. Thế là bao nhiêu những vần thơ của các bậc tao nhân mặc khách chợt ùa về trong tâm hồn của nhà văn Nguyễn Tuân. Ông nguyện theo người xưa để thơ lên sóng nước sông Đà. Như vậy, 15 bài kí mà Nguyễn gửi trong kho tàng văn chương Việt Nam là gì nếu không phải là những vần thơ đẹp được ông thả trên dòng sông nghệ thuật?Bên cạnh đó, tình yêu nước của Nguyễn Tuân còn được thể hiện khi ông say sưa kể về những loài cá quí hiếm chỉ có ở Đà giang. Đó là cá anh vũ, cá dầm xanh “vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi.” Như vậy rõ ràng, đây chính là “chất vàng mười” của rẻo cao Tây Bắc. Đó không chỉ là “chất vàng mười” của thi ca mà còn là “chất vàng mười” của kiến thức. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài kí này, Nguyễn Tuân ước ao được nghe một tiếng còi tàu xúp - lê từ Yên Bái, Việt Trì vọng lên trên Tây Bắc. Điều ấy khiến ta liên tưởng tới Chế Lan Viên với mong muốn được hóa thành đoàn tàu để chở mọi người lên khai phá mảnh đất nơi giang hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Tuân vừa hùng vĩ, vừa dữ dội nhưng cũng vô cùng mĩ lệ, trữ tình và vô cùng lãng mạn. Hai tính cách ấy đặt bên cạnh nhau nhưng không hề bài trừ nhau mà lại tôn vinh nhau, khiến con sông Đà trở nên chân thực sống động, cựa mình trên trang viết. Quan trọng hơn, đằng sau dòng sông ta thấy hiện lên một bức chân dung của một Nguyễn Tuân với tình yêu quê hương đất nước; một Nguyễn Tuân đã được ánh sáng của Đảng soi rọi, được phù sa của nhân dân bồi đắp; một Nguyễn Tuân với tâm hồn mà như Tố Hữu đã viết“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua timHồn tôi là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim”Như vậy, Nguyễn Tuân viết bài kí “Người lái đò sông Đà” bằng một tâm hồn rộn ràng tiếng chim như thế, bằng một tâm hồn như một vườn hoa thơm quả ngọt. Rõ ràng ông là người chiến sĩ trên mặt trận văn chương.
thiếu quê hương nguyễn tuân